Hướng dẫn sơ cứu người bị đột quỵ hoạc bị tai biến

01:53 |

Hướng dẫn cấp cứu người bị đột quỵ và tai biến

Theo điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tại 2/3 số quốc gia được khảo sát, tai biến này là 1 trong 3 nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Nếu phát hiện và điều trị sớm, bệnh nhân sẽ được cứu sống và tránh để lại những di chứng nặng nề về sau.

Sau khi nhận diện người bị tai biến mạch máu não


Có một câu chuyện kể lại rằng: “Trong bữa tiệc BBQ, một người bạn bị mất thăng bằng suýt ngã, bà ta trấn an mọi người là bà không sao cả, chỉ bị trượt trên gạch vì đôi giày mới… Vài người đã giúp phủi bụi cho bà (thay vì kêu xe cứu thương) và làm cho bà một đĩa thức ăn mới. Bà Ingrid tiếp tục cuộc vui cùng bạn bè cho đến hết buổi chiều. Khi mọi người mới về đến nhà, thì nhận được điên thoại cuả chồng bà Ingrid, báo tin là vợ ông đã được đưa vào bệnh viện lúc 6 giờ chiều, và đã qua đời vì tai biến mạch máu não trong bữa tiệc BBQ. Nếu có người biết cách nhận ra triệu chứng tai biến mạch máu não, có lẽ bà Ingrid có thể vẫn còn sống với chúng ta hôm nay.





Bài viết dưới đây, chúng tôi giới thiệu đến các bạn một phương pháp rất đơn giản và hữu hiệu để có thể kịp thời cứu sống người đột quỵ

Cây kim có thể cứu sống bệnh nhân đột quỵ. Rất có thể các bạn đã nhận được thông tin này rồi, nhưng biết thêm vẫn tốt. Hãy giữ một cây kim (nhớ là thật sạch) ở trong nhà để làm điều này. Đây là một cách vô cùng kỳ diệu và độc đáo để cứu người bị đột quỵ. Hãy đọc thật kỹ biết đâu có ngày bạn sẽ có dịp sử dụng kiến thức này để cứu người.

Bài viết này thật tuyệt. Hãy giữ nơi thuận lợi nhất. (Tốt nhất là học thuộc và giữ nó trong đầu của bạn). Đây là các mẹo tuyệt hảo. Hãy bỏ ra một vài phút để đọc. Biết đâu có ngày hữu dụng. Mạng sống của ai đó có thể phụ thuộc vào bạn.

Khi có người bị đột quỵ, hãy hết sức bình tĩnh. Cho dù bệnh nhân đang ở đâu, cũng không được di chuyển. Vì nếu bị di chuyển, các mạch máu não sẽ vỡ ra. Hãy giúp bệnh nhân ngồi tại chỗ và giữ không cho bệnh nhân bị ngã, rồi bắt đầu chích cho máu chảy ra. Nếu bạn có sẵn một cây kim tiêm ở nhà thì tốt nhất, nếu không có kim tiêm, bạn có thể dùng kim may hoặc một cây kim thẳng. (Nhớ là phải rửa tay thật sạch trước khi thực hiện các việc sau đây):

1. Hơ kim trên lửa để khử trùng rồi dùng nó để chích mười đầu ngón tay.
2. Không có các huyệt cụ thể, chỉ cần chích cách các móng tay 1mm.
3. Chích đến khi nào máu chảy ra.
4. Nếu máu không chảy ra được, hãy dùng ngón tay của bạn để nặn ra.
5. Khi tất cả mười đầu ngón tay đều đã có máu chảy ra, hãy chờ vài phút, nạn nhân sẽ hồi tỉnh.
6. Nếu nạn nhân bị méo miệng, hãy kéo hai tai nạn nhân cho đến khi cả hai tai đều đỏ lên.

7. Sau đó, chích vào dái tai cho đến khi mỗi dái tai có chảy ra hai giọt máu. Sau vài phút nạn nhân sẽ hồi tỉnh.Chờ cho đến khi nạn nhân trở lại trạng thái bình thường không có một triệu chứng bất thường nào nữa thì mới chở nạn nhân vào bệnh viện vì nếu vội vàng chở đi bệnh nhân đi ngay đến bệnh viện bằng xe cấp cứu, xe chạy bị xóc sẽ làm cho các mạch máu não của bệnh nhân vỡ tung ra. Nếu nạn nhân có được cứu sống, ráng lắm mới đi lại được thì cũng do phước đức ông bà để lại mà thôi.


Irene Liu kể lại rằng:“Tôi học được phương pháp cứu người bằng cách chích cho máu chảy ra từ Bác sĩ Ha Bu-Ting ở Sun-Juke. Hơn nữa tôi cũng đã từng có kinh nghiệm thực tế. Vì vậy tôi có thể nói phương pháp này hiệu quả đến 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại trường Đại học Fung-Gaap ở Tai-Chung. Một ngày nọ tôi đang dạy ở trong lớp thì có một giáo viên khác chạy đến lớp tôi và nói trong hơi thở hổn hển: “Cô Liu ơi, mau lên, sếp bị đột quỵ rồi!”

Tôi chạy ngay lên tầng 3. Khi tôi nhìn thấy sếp tôi, ông ChenFu-Tien, thì ông ta da đã nhợt nhạt, nói ngọng nghịu, miệng méo – tất cả các hiện tượng của chứng đột quỵ. Tôi liền nhờ một học sinh đến một tiệm thuốc bên ngoài trường học mua một cây kim và dùng nó chích mười đầu ngón tay ông Chen. Khi tất cả mười đầu ngón tay của ông ta đã chảy máu (mỗi ngón tay đều chảy một giọt máu bằng hạt đậu), sau vài phút, khuôn mặt của ông Chen hồng hào trở lại và đôi mắt cũng đã có thần hơn. Nhưng miệng ông ta vẫn còn méo. Thế là tôi kéo tai ông ta cho máu chảy đến tai. Khi tai ông ta đã đỏ, tôi liền chích vào 2 dái tai của ông để nặn ra hai giọt máu. Khi cả hai tai đều đã được nặn máu, mỗi bên hai giọt, thì một điều kỳ diệu đã xảy ra. Trong vòng 3 – 5 phút, miệng ông ta đã trở lại hình dáng bình thường và giọng nói trở nên rõ ràng. Tôi để cho sếp tôi nghỉ ngơi một lát và uống một tách trà nóng, rồi tôi giúp ông đi xuống cầu thang và chở ông đến bệnh viện. Ông nghỉ tại bệnh viện một đêm và hôm sau được xuất viện để trở về trường dạy học.

Mọi việc xảy ra rất bình thường. Không hề có một tác động nào xấu để lại. Mặt khác, nạn nân đột quỵ thường phải chịu tình trạng mạch máu não bị vỡ khó tránh khỏi trên đường đi đến bệnh viện. Kết quả là các nạn nhân này sẽ không bao giờ phục hồi được. Sau khi kể lại câu chuyện này Irene Liu tiếc nuối rằng: “Cha tôi đã bị liệt và sau đó đã chết vì bị đột quỵ. Ước gì mà tôi đã biết được cách sơ cứu này trước khi chuyện đau lòng ấy xảy ra. Khi bị bệnh nhân bị đột quỵ, các mạch máu não sẽ bị vỡ”.

Vì vậy đột quỵ là nguyên nhân dẫn đến tử vong rất nhanh. Những người may mắn có thể sẽ sống sót nhưng phải chịu liệt suốt đời. Điều này thật là khủng khiếp. Nếu như tất cả chúng ta có thể nhớ phương pháp chích cho máu chảy ra và bắt đầu quá trình cứu người ngay tức khắc, chỉ trong một thời gian rất ngắn, nạn nhân đã có thể hồi sinh và trở lại bình thường.

Chúng tôi hi vọng rằng các bạn sẽ bày cho người khác phương pháp sơ cứu này. Bằng cách làm như vậy, đột quỵ sẽ bị chuyển khỏi danh sách các nguyên nhân chính gây tử vong và giúp người bệnh thoát chết trong gang tấc.
Read more…

TRỊ HÔI MIỆNG, HÔI NÁCH, HÔI CHÂN CỰC ĐƠN GIẢN

22:20 |

Khi bộ phận trên cơ thể phát mùi gây ra rất nhiều khó chịu. Chúng ta hãy trị triệt để chúng bằng cách đơn giản sau.


Khử hôi miệng


Ảnh minh họa
Bằng chè: Sau khi ăn tỏi miệng thường bị hôi, để khử hết mùi tỏi, chỉ cần nhai một ít chè, mùi tỏi sẽ hết ngay. Nếu không, bạn có thể nhai táo tàu hoặc uống một cốc chè đặc.

Sữa bò: Uống một cốc sữa bò cũng có thể loại bỏ mùi tỏi trong miệng.

Súc miệng bằng nước muối: Dùng nước muối súc miệng hoặc ngậm nước muối trong miệng sẽ giúp diệt các loại khuẩn làm hôi miệng.

Uống nhiều nước lọc cũng là cách khử mùi khó chịu của thức ăn để lại. Tuyệt đối không dùng nước có cồn hay cà phê, hoặc sữa vì chúng sẽ làm hơi thở của bạn trở nên nặng mùi hơn.

Ngậm một lát chanh còn thừa trong đĩa gia vị, hay gọi món tráng miệng là cam hoặc bưởi. Không chỉ chanh, mà cả bưởi, cam đều có thể làm sạch miệng.

Táo, hoặc các loại trái cây tươi, cứng giòn như lê, cà rốt có nhiều chất xơ. Khi nhai, chúng tác động mạnh trong miệng giống như là động tác bạn đang cọ sạch miệng. vì loại trái cây này có thể làm tăng lượng nước bọt tiết có chứa enzim và chất khử trùng.

Khử hôi nách


Ảnh minh họa
Lấy 2-3 quả ớt khô (hoặc ớt tươi), 10ml cồn i-ốt nồng độ 2,5%. Cắt ớt thành từng khúc nhỏ, cho vào ngâm với cồn i-ốt, bịt kín, lắc đều. Dùng bong y tế thấm đẫm dung dịch đã ngâm bôi vào nách, mỗi ngày 3 lần cho tới khi khỏi.

Lấy 3g băng phiến (long não), 20ml cồn nồng độ 50%. Cho băng phiến vào trong cồn, đậy kín cho băng phiến tự tan. Trước khi bôi dung dịch đã ngâm, bạn lấy xà phòng ấm rửa sạch nách, lau khô. Mỗi ngày làm 2 lần, mỗi đợt 10 ngày, bạn sẽ dần dần khỏi hôi nách.

Sau khi tắm xong, bạn cho vào bồn tắm 500ml nước cà chua, ngâm nách vào trong nước 15 phút, mỗi tuần làm 2 lần cũng rất hiệu quả.

Khoai tây sống cắt lát, xát lên vùng dưới cánh tay, để khô rồi rửa lại bằng nước sạch.

Nước cốt chanh hoặc giấm pha với chút nước, rửa vùng nách ngày vài lần. Có thể kết hợp cho chanh hoặc giấm vào nước tắm.

Khử hôi chân


Ảnh minh họa
Bạn cho vào nước rửa chân 25g chè và một ít muối, ngâm chân vào đó đồng thời xoa 2 chân vào nhau liên tục trong vòng 5-10 phút, mùi hôi chân sẽ hết.

Mỗi tối khi rửa chân trước lúc ngủ, bạn cho vào chậu nước rửa chân 50g phèn chua, làm như vậy khử mùi hôi rất hiệu quả.

Dùng xơ mướp ép khô làm tấm lót giày, bạn sẽ tống khứ được mùi do mồ hôi chân gây ra.

Khi rửa chân, bạn cho thêm 10 - 15ml giấm nếp vào trong nước, quấy đều, cho hai chân vào ngâm khoảng 15 phút. Mỗi ngày bạn ngâm chân 1 lần, làm liên tục trong 3 - 5 ngày.

Lấy 15g rễ bột sắn cho vào 15g rượu trắng, thêm một lượng nước thích hợp, đun sôi để nguội rửa chân, mỗi ngày làm 1 lần.

Đổ 1 chai bia vào chậu nước, cho nước vừa đủ. Rửa sạch chân, sau đó cho vào chậu nước bia ngâm rửa trong 20 phút, rồi rửa sạch lại. Mỗi tuần làm 1-2 lần.
Read more…

Mẹo giúp răng trắng sáng cực hiệu quả

20:08 |

Không khó để sở hữu nụ cười tỏa nắng đâu các bạn.

Cách 1: Làm trắng răng bằng trái cây

Thường xuyên ăn các loại trái cây như: táo, cần tây, cà rốt, rau cải, rau diếp… Lượng axit tự nhiên trong những loại thực vật cùng với sự giàu chất xơ của táo giúp loại đi những mảng bám và làm răng bạn trắng hơn.

Cách 2: Làm trắng răng bằng giấm táo

Nhúng bàn chải đánh răng vào dung dịch giấm táo, chà nhẹ lên răng. Răng của bạn không những sẽ trắng lên mà các chất do ăn uống còn lại trong miệng cũng được làm sạch sẽ.

Cách 3: Làm trắng răng bằng quả dâu tây



- Cắn ngập quả dâu tây và để nguyên trong vòng 5 phút, chất tẩy dịu nhẹ trong dâu tây sẽ xóa sạch các vết ố vàng trên răng
- Nghiền dâu tây, hòa chung vào kem đánh răng dùng đều đặn hàng ngày bạn sẽ có một hàm răng trắng bóng

Cách 4: Làm trắng răng bằng bánh mì

- Nướng một mẩu bánh mì cho tới khi vỏ bánh cháy đen

- Cạo lớp cháy, hòa chung với kem đánh răng, trước khi đi ngủ dùng hỗn hợp này chà mạnh lên răng

Cách 5: Làm trắng răng bằng mía

Mía không những bổ dưỡng mà còn có thể làm trắng răng. Thường xuyên ăn mía sẽ giúp hàm răng của bạn trắng sạch bởi khi nhai mía, bã mía chà sát vào răng sẽ giúp răng trắng sạch

Cách 6: Làm trắng răng bằng miếng cau

Nếu quan sát hẳn bạn đã từng thấy các cụ sau khi nhai trầu hay dùng miếng cau chà sát lên răng. Không thừa đâu, bạn thử xem, các vết ố vàng sẽ biến mất đó


Cách 7: Làm trắng răng bằng baking soda

- Dùng nửa thìa baking soda hòa vào nước

- Dùng bàn chải đánh răng nhúng vào hỗn hợp này rồi chà đi chà lại trên răng. Nếu làm thường xuyên bạn sẽ có một hàm răng trắng bóng như ý muốn

Cách 8: Làm trắng răng bằng chanh và muối

- Hòa 1 thìa nước cốt chanh tươi cùng vài hạt muối

- Nhúng bàn chải đánh răng vào hỗn hợp này chải lên răng như đánh răng bình thường, những mảng ố vàng sẽ dần biến mất. Cách này hiệu quả khá cao nhé bạn!

Cách 9: Làm trắng răng bằng natri cacbonat

Natri cacbonat thực chất là dung dịch nước muối nồng độ 90%. Bạn có thể hằng ngày súc miệng bằng dung dịch này các vết ố vàng trên răng sẽ bị loại bỏ.

Các cách làm trắng răng trên đều rất đơn giản, dễ thực hiện. Điều quan trọng là bạn nên làm thường xuyên định kỳ và hạn chế các loại đồ ăn không tốt cho men răng.
Read more…

NHỮNG THỰC PHẨM CẦN TRÁNH KHI BỊ HÔI NÁCH

08:10 |
Nguyên nhân gây mùi hôi nách
 
Thông thường, tuyến mồ hôi của cơ thể chia làm hai loại:
 
Ở người hôi nách thành phần mồ hôi và chất bã có sự cấu tạo đặc biệt gồm quá nhiều các hỗn hợp ammoniac và acid béo.
Thứ nhất là eccrine (tuyến mồ hôi nhỏ) có nhiệm vụ đào thải các chất cặn bã, tuyến này phân bố toàn thân, thải ra 99% nước và 0,5% muối.
 
Thứ hai là apcrine (tuyến mồ hôi lớn) nằm dưới da, sẽ mở ra ở các lỗ chân lông tuyến này chỉ phân bố ở nách, vùng kín hay lông mày, sẽ thải ra các chất lỏng khá đặc, có chứa chất nhờn, protein và các chất sắt. Các chất này khi kết hợp với sự phân giải của các vi khuẩn dưới nách sẽ tạo thành một loại axit béo không bão hòa có mùi khó chịu thường gọi là mùi hôi nách.
 
Ở người hôi nách thành phần mồ hôi và chất bã có sự cấu tạo đặc biệt gồm quá nhiều các hỗn hợp ammoniac và acid béo. Thêm vào đó sự phân hủy của các chất sừng đã bị ngấm mồ hôi bởi vi khuẩn hoặc nấm có trong tuyến mồ hôi hoặc tuyến bã tạo nên tính chất “nặng mùi” của người hôi nách.
 
Ngoài ra, hôi nách còn có tính di truyền, chúng thường xuất hiện trong một gia đình hoặc một gia tộc. Nếu bạn có cả bố và mẹ bị hôi nách thỉ tỷ lệ mắc bệnh lên đến 80%, còn chỉ có một trong hai bên bị thì tỷ lệ này là 50%.
 
Các bệnh như bệnh thận, gan, các vấn đề về da, hệ tiêu hóa, nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc nấm, tăng năng tuyết giáp… cũng gây ra mùi mồ hôi dưới cánh tay.
 
Một vài lý do khác làm phát sinh mùi hôi nách là do căng thẳng và lo lắng dẫn đến việc đổ mồ hôi. Ăn quá nhiều thức ăn cay nóng, thiếu kẽm, sâu răng và các loại độc tố cũng gây ra mùi hôi của nách.
 
Các thực phẩm cần tránh khi bị hôi nách 
 
Không nên ăn những thực phẩm nặng mùi nếu bị hôi nách.
Thực phẩm nặng mùi
 
Các thực phẩm để lại mùi hương nặng như hành, tỏi. Tuy chúng có thể hạn chế vi khuẩn phát triển nhưng khi cơ thể hấp thụ, mùi vị khó chịu của chúng sẽ theo tuyến mồ hôi bài tiết ra ngoài.
 
Thực phẩm cay nóng
 
Không nên ăn các gia vị có tính cay nóng như ớt, hạt tiêu, mù tạt, các gia vị có mùi nồng nặc. Không ăn gừng tươi, xả, gia vị quế, hồi. Vì những loại gia vị này chỉ khiến cho bệnh hôi nách của bạn trở lên nặng thêm mà thôi.
 
Thực phẩm giàu đạm
 
Hạn chế ăn thịt chó, hải sản, lẩu...sẽ khiến bệnh hôi nách của bạn nặng hơn.
 
Thực phẩm nhiều dầu mỡ
 
Người bị bệnh hôi nách nên kiêng ăn những thức ăn có nhiều dầu mỡ, vì thức ăn dầu mỡ khiến mồ hôi nhiều dầu hơn.
 
Tránh xa rượu bia, chất kích thích
 
Không nên uống các loại đồ uống như rượu, chè, cafe, coca,... Những loại đồ uống này, có chứa chất kích thích tác động lên niêm mạc da, đặc biệt là rượu. Vì vậy, uống nhiều những loại đồ uống này sẽ làm cho bệnh của bạn nặng thêm.
Read more…

ĐÁNH BAY MỤN THỊT, MỤN TRỨNG CÁ BẰNG RAU DIẾP CÁ

07:59 |

Kháng khuẩn cao, diếp cá sẽ làm các nốt mụn giảm sưng tấy và khô xẹp lại.



Với tính kháng khuẩn cao, diếp cá sẽ làm các nốt mụn giảm sưng tấy và khô xẹp lại. Bên cạnh đó gel lô hội lành tính đối với mọi loại da sẽ giúp làm se lỗ chân lông, mờ vết thâm do mụn để lại. Kết hợp lá diếp cá và lô hội bạn sẽ được loại mặt nạ trị mụn tự nhiên hữu hiệu không hề thua kém các loại thuốc đắt tiền.
 
Hãy lấy nước cốt diếp cá trộn đều với phần thịt lô hội tươi để được loại mặt nạ dịu mát, lành tính và trị mụn hiệu quả.
 
Đắp lô hội và diếp cá 2 lần một tuần để da sạch bong mụn.
 
Diếp cá kết hợp mật ong Cách trị mụn trứng cá bằng rau diếp cá là vào buổi tối trước khi đi ngủ bạn hãy lấy diếp cá xay lấy nước, trộn với mật ong theo tỷ lệ 1:1 thành một hỗn hợp. 
 
Dùng hỗn hợp này để thoa lên mặt trong vòng 10-15 phút. Mật ong giúp da dưỡng ẩm, kháng khuẩn, chống lão hóa, làm giảm vết mụn sưng tấy, giúp da sáng và mịn màng hơn. Khi dùng chung với diếp cá, bạn sẽ cảm nhận được sự tươi mát và căng mịn.
 
Rau diếp cá và muối
 
Rau diếp cá, muối  ngăn ngừa và điều trị mụn trứng cá rất hiệu quả nữa đấy.
Để xử lý tình trạng da dầu của mình bạn có thể giã nát diếp cá rồi trộn với một chút muối hạt rồi bôi lên mặt. Muối giúp da săn chắc hơn, điều tiết chất nhờn, đặc biệt là vùng chữ T (trán, mũi, cằm). Ngoài ra, nó còn có tính sát khuẩn cao, giúp da thải độc, ngăn ngừa và điều trị mụn trứng cá rất hiệu quả nữa đấy.
 
Rau diếp cá ép nguyên chất
 
Để mặt nạ lá diếp cá phát huy hiệu quả tốt nhất, bạn nên dùng trước khi đi ngủ vì lúc đó làn da đã được nghỉ ngơi và có thể hấp thụ dưỡng chất nhiều nhất. Ngoài ra, bạn cũng không nên lạm dụng việc đắp mặt nạ, tốt nhất là sử dụng 2 – 3 lần/tuần, trong khoảng 15 – 20 phút. Khi đắp mặt nên tránh các vùng da nhạy cảm như mắt, lông mày, khóe miệng.
 
Rau diếp cá với cám gạo, dầu ôliu
 
Vò nhuyễn lá, vắt lấy nước, trộn với một ít cám gạo, thêm vài giọt dầu ôliu, đắp lên mặt 10-15 phút. Rửa sạch bằng nước lạnh.
Read more…

Mỗi tháng, trẻ tăng cân bao nhiêu là đủ?

08:55 |

Mỗi tháng, tr tăng cân bao nhiêu  đủ? Tr thường cao lên thêm bao nhiêu sau mỗi tháng?


Để kim tra xem tr phát trin bình thường không, th n cứ vào các chỉ số sau:

- Trẻ đẻ đủ tháng mỗi tháng tăng trung bình khong 600 g. Tháng thứ 2 và tháng th 3 tăng khong 800 g. Trong nhng tháng tiếp theo, mức tăng sẽ gim 50 g so vi tháng trước đó. Chng hn như tháng th tư, s tăng cân ca trs 800 g tr50 g, nghĩa 750 g.



- Về chiu cao, trong 3 tháng đu, mức tăng trung bình khong 3 cm mỗi tháng. độ tuổi 3-6 tháng, mức tăng 2,5 cm/tháng. Từ 6 đến 9 tháng: 1,5 - 2 cm/tháng; t 9 đến 12 tháng: 1-1,5 cm. Như vy, sau một năm, chiều cao ca tr tăng khong 25  đến 27 cm, đt mc 75-78 cm. Chiu cao ca các cháu gái trong năm đu tiên thường ít hơn so vi các cháu trai khong 1,5 cm.
Read more…

Con tôi bị đẻ thiếu tháng. Tại sao lại như vậy?

08:52 |

Con tôi bị đ thiếu tháng. Tại sao lại như vậy? Liu nhng đa con sau này cũng bị đthiếu tháng không?


nhiu nguyên nhân gây đ non: Sc khỏe của người mẹ, chế độ ăn uống khi thai, lứa tuổi của người mẹ, tư thế sc khỏe ca bào thai, các yếu tố v mt di truyn.  Đẻ non cũng th xy ra  đối vi nhng phụ nữ  đẻ nhiu ln, c t cung không phát triển đy đủ, bị u xơ, bị nhim độc sau tháng th4.



Một số phụ n sinh ln th hai cũng vn bị đ non. Trong bt kỳ trường hp nào cũng cần phi gp bác phụ sn đ c định nguyên nhân gây ra đẻ non, tiến hành điu trị chỉ sau đó mi quyết định nên tiếp tục mang thai hay không.

Xem Thêm: 

Cân nặng và chiều cao của trẻ sơ sinh là bao nhiêu thì được coi là bình thường?

Read more…

Cân nặng và chiều cao của trẻ sơ sinh là bao nhiêu thì được coi là bình thường?

08:45 |

Cân nng chiều cao ca tr sơ sinh bao nhiêu thì được coi bình thường?





Đối vi tr sơ sinh đủ tháng (không dưới 40 tun mang thai), trọng lượng cơ th dao động trong khong t 3,2-3,8 kg (trung bình là 3,5 kg), chiều cao 50-53 cm (trung bình 51 cm) được coi là bình thường. Trọng lượng th và chiu cao ca tr sơ sinh th ít hơn mc này nếu trẻ đ thiếu tháng hoặc do m hút thuốc lá, uống rượu.
Read more…

Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay-chân-miệng

08:43 |
I. Giới thiệu bện chân tay miệng

- Bệnh tay-chân-miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71). Biểu hiện chính là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71. 
- Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.
- Bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
- Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.

II. CHẨN ĐOÁN

1. Lâm sàng:
1.1. Triệu chứng lâm sàng:
a) Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày.
b) Giai đoạn khởi phát: Từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.
c) Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh:
- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi.
- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm.
- Sốt nhẹ.
- Nôn.
- Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng.
- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.
d) Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.
1.2. Các thể lâm sàng:
- Thể tối cấp: Bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê co giật dẫn đến tử vong trong vòng 48 giờ.
- Thể cấp tính với bốn giai đoạn điển hình như trên.
- Thể không điển hình: Dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.
2. Cận lâm sàng:
2.1. Các xét nghiệm cơ bản:
- Công thức máu: Bạch cầu thường trong giới hạn bình thường.
- Protein C phản ứng (CRP) (nếu có điều kiện) trong giới hạn bình thường (< 10 mg/L).
2.2. Các xét nghiệm theo dõi phát hiện biến chứng:
- Đường huyết, điện giải đồ, X quang phổi.
- Khí máu khi có suy hô hấp
- Troponin I, siêu âm tim khi nhịp tim nhanh ≥ 150 lần/phút, nghi ngờ viêm cơ tim hoặc sốc.
- Dịch não tủy:  
+ Chỉ định chọc dò tủy sống khi có biến chứng thần kinh. 
+ Xét nghiệm protein bình thường hoặc tăng nhẹ, số lượng tế bào trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ bạch cầu đơn nhân. Trong giai đoạn sớm có thể tăng bạch cầu từ 100-1000 bạch cầu/mm3, với tỉ lệ đa nhân chiếm ưu thế.
- Chụp cộng hưởng từ não: Tổn thương tập trung ở thân não. Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý ngoại thần kinh.
2.3. Xét nghiệm phát hiện vi rút: Lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước, trực tràng, dịch não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập vi rút chẩn đoán xác định nguyên nhân do EV71 hay Coxsackievirus A16.
3. Chẩn đoán xác định: Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học.
- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian.
- Lâm sàng: Sốt kèm theo phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.
- Xét nghiệm xác định có vi rút gây bệnh.
4. Chẩn đoán phân biệt:
4.1. Các bệnh có biểu hiện loét miệng:
Viêm loét miệng (áp-tơ): Vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát.
4.2. Các bệnh có phát ban da:
- Sốt phát ban: hồng ban xen kẽ ít dạng sẩn, thường có hạch sau tai.
- Dị ứng: hồng ban đa dạng, không có phỏng nước.
- Viêm da mủ: Đỏ, đau, có mủ.
- Thuỷ đậu: Phỏng nước nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân.
- Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: mảng xuất huyết hoại tử trung tâm
- Sốt xuất huyết Dengue: Chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc.
4.3. Viêm não-màng não:
- Viêm màng não do vi khuẩn
- Viêm não-màng não do vi rút khác
5. Biến chứng:
5.1. Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não.
- Rung giật cơ (myoclonic jerk): Từng cơn ngắn 1-2 giây, chủ yếu ở tay và chân, trong cơn trẻ vẫn còn ý thức.
- Ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược.
- Yếu liệt chi (liệt mềm cấp).
- Liệt dây thần kinh sọ não.
- Co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn.
5.2. Biến chứng tim mạch, hô hấp: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch.
- Mạch nhanh > 150 lần/phút.
- Thời gian đổ đầy mao mạch chậm trên 3 giây.
- Da nổi vân tím, vã mồ hôi, chi lạnh.
- Giai đoạn đầu có huyết áp tăng (HA tâm thu: trẻ dưới 2 tuổi ≥ 115 mmHg, trẻ trên 2 tuổi ≥ 120 mmHg), giai đoạn sau mạch, huyết áp không đo được.
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, thở rít thanh quản, thở không đều.
- Phù phổi cấp: Sùi bọt hồng, khó thở, tím tái, phổi nhiều ran ẩm.
6. Phân độ lâm sàng:
6.1. Độ 1: Chỉ loét miệng và/hoặc tổn thương da.
6.2. Độ 2: Biến chứng thần kinh hoặc tim mạch mức độ trung bình.
Rung giật cơ: Kèm theo 1 trong các dấu hiệu sau:
- Đi loạng choạng.
- Ngủ gà.
- Yếu liệt chi.
- Mạch nhanh >150 lần/phút (khi trẻ nằm yên và không sốt).
- Sốt cao ≥ 39o5C (nhiệt độ hậu môn).
6.3. Độ 3: Biến chứng nặng về thần kinh, hô hấp, tim mạch.
- Co giật, hôn mê (Glasgow < 10 điểm).
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, SpO2 < 92% (không oxy hỗ trợ).
- Mạch nhanh >170 lần/phút hoặc tăng huyết áp.
6.4. Độ 4: Biến chứng rất nặng, khó hồi phục
- Phù phổi cấp.
- Sốc, truỵ mạch.
- SpO2 < 92% với oxy qua gọng mũi 6 lít/phút.
- Ngừng thở.

III. ĐIỀU TRỊ

1. Nguyên tắc điều trị:
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm).
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng.
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng.
2. Điều trị cụ thể:
2.1. Độ 1: Điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở.
- Dinh dưỡng đầy đủ theo tuổi. Trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ.
- Hạ sốt khi sốt cao bằng Paracetamol liều 10 mg/kg/lần (uống) mỗi 6 giờ hoặc lau mát.
- Vệ sinh răng miệng.
- Nghỉ ngơi, tránh kích thích.
- Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 5-10 ngày đầu của bệnh
- Dặn dò dấu hiệu nặng cần tái khám ngay:
+ Sốt cao ≥ 39oC.
+ Thở nhanh, khó thở.
+ Rung giật cơ, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ.
+ Co giật, hôn mê.
+ Yếu liệt chi.
+ Da nổi vân tím.
- Chỉ định nhập viện:
+ Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp (từ độ 2).
+ Sốt cao ≥ 39oC.
+ Nôn nhiều.
+ Nhà xa: không có khả năng theo dõi, tái khám.
2.2. Độ 2: Điều trị nội trú tại bệnh viện huyện hoặc tỉnh
- Điều trị như độ 1.
- Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút khi có thở nhanh.
- Chống co giật: Phenobarbital 10 mg/kg/lần tiêm bắp hay truyền tĩnh mạch. Lặp lại sau 6-8 giờ khi cần.
- Immunoglobulin (nếu có).
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, tri giác, ran phổi, mạch mỗi 4- 6 giờ.
- Đo độ bão hòa oxy SpO2 và theo dõi mạch liên tục (nếu có máy).
2.3. Độ 3: Điều trị nội trú tại bệnh viện tỉnh hoặc bệnh viện huyện nếu đủ điều kiện.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút. Đặt nội khí quản giúp thở sớm khi thất bại với thở oxy.
- Chống phù não (xem điều trị biến chứng).
- Chống co giật: Phenobarbital 10-20mg/kg pha trong Glucose 5% truyền tĩnh mạch trong 30- 60 phút. Lặp lại 8-12 giờ nếu cần.
- Hạ đường huyết: Glucose 30% 2 ml/kg/lần, lặp lại khi cần.
- Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm.
- Dobutamin được chỉ định khi suy tim mạch > 170 lần/phút, liều khởi đầu 5µg/kg/phút truyền tĩnh mạch, tăng dần 1-2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có cải thiện lâm sàng; liều tối đa 10µg/kg/phút.
- Immunoglobulin (nếu có).
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, tri giác, ran phổi, SpO2, mỗi 1- 2 giờ.
2.4. Độ 4: Điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương, hoặc bệnh viện tỉnh, huyện nếu đủ điều kiện.
- Xử trí tương tự độ 3.
- Điều trị biến chứng (xem phần điều trị các biến chứng).
3. Điều trị các biến chứng:
3.1. Phù não:
- Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
- Thở oxy qua mũi 1- 4 lít/phút. Đặt nội khí quản sớm để giúp thở khi SpO2 < 92% hay PaCO2 > 50 mmHg.
- Thở máy: Tăng thông khí giữ PaCO2 từ 25-35 mmHg và duy trì PaO2 từ 90-100 mmHg.
- Hạn chế dịch: tổng dịch bằng 1/2-3/4 nhu cầu bình thường.
3.2. Sốc: Sốc do viêm cơ tim hoặc tổn thương trung tâm vận mạch ở thân não.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút.
- Đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung ương.
- Truyền dịch Natri clorid 0,9% hoặc Ringer lactat: 5 ml/kg/15 phút, điều chỉnh tốc độ theo hướng dẫn CVP và đáp ứng  lâm sàng. Trường hợp không có CVP cần theo dõi sát dấu hiệu quá tải, phù phổi cấp.
- Dopamin là thuốc được chọn lựa, liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 1- 2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 10 µg/kg/phút. Trường hợp không đáp ứng với Dopamin phối hợp Dobutamin liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 1- 2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 20 µg/kg/phút.
3.3. Suy hô hấp: Suy hô hấp do phù phổi cấp, hoặc viêm não.
- Thông đường thở: hút sạch đờm rãi.
- Thở oxy 3- 6 lít/phút, duy trì SpO2 > 92%.
- Đặt nội khí quản nếu có cơn ngừng thở hoặc thất bại với thở oxy.
- Thở máy: Tăng thông khí giữ PaCO2 từ 25- 35 mmHg và duy trì PaO2 từ 90- 100 mmHg.
3.4. Phù phổi cấp:
- Ngừng ngay dịch truyền nếu đang truyền dịch.
- Dùng Dobutamin liều 5-20 µg/kg/phút.
- Furosemide 1-2 mg/kg/lần tiêm tĩnh mạch chỉ định khi quá tải dịch.
4. Immunoglobulin (nếu có):
- Chỉ định từ độ 2 và độ 3.
- Liều: 1g/kg/ngày  truyền tĩnh mạch trong 6- 8 giờ x 2 ngày liên tiếp.
- Riêng độ 2 cần đánh giá lại lâm sàng trước chỉ định liều thứ 2. Không dùng liều 2 nếu lâm sàng cải thiện tốt.
5. Kháng sinh:
- Kháng sinh không có chỉ định trong bệnh tay-chân-miệng.
- Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm.
- Có thể dùng các kháng sinh sau đây:
+ Amoxicillin
+ Cephalosporin thế hệ 3:
Cefotaxim 200 mg/kg/ngày chia 4 lần (tĩnh mạch)
Hoặc Ceftriaxon 100 mg/kg/ngày chia 1-2 lần (tĩnh mạch)
IV. PHÒNG BỆNH
1. Nguyên tắc phòng bệnh:
- Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu.
- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây.
2. Phòng bệnh tại các cơ sở y tế:
- Cách ly theo nhóm bệnh.
- Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc.
- Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2%.
- Xử lý chất thải theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hoá.
 3. Phòng bệnh ở cộng đồng:
- Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt).
- Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà.
- Lau sàn nhà bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B 2%.

- Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Không đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh. 
Read more…